Phát triển Logistics Hà Nội

Sớm thành lập cơ quan quản lý nhà nước về Logistics
Theo TS. Đặng Thị Thúy Hồng, Viện nghiên cứu Thương mại, Bộ Công Thương, với quy hoạch và chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2050, Hà Nội có nhiều cơ hội và sự lựa chọn trong phát triển hệ thống Logistics thành phố. Tuy nhiên, điều đáng tiếc hiện nay là trong các quy hoạch và chiến lược phát triển các ngành của thành phố chưa đưa được yêu cầu và nội dung phát triển hệ thống Logistics thành phố, đặc biệt là cơ sở hạ tầng Logistics của Hà Nội bởi hệ thống đường vành đai thành phố vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu các trung tâm Logistics để kết nối các loại phương tiện vận tải tối ưu.
Số liệu thống kê của Hiệp hội Logistics Việt Nam, cả nước có khoảng 2.500 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh các ngành nghề thuộc Logistics, trong đó thành phố Hồ Chí Minh chiếm 46%, Hà Nội 12%, Đà Nẵng 5%, Hải Phòng 4%, 33% còn lại rải rác tại hơn 20 tỉnh, thành phố khác.
 
 
Doanh nghiệp LSP Hà Nội chủ yếu là nhỏ
LSP (Logistics Service Provider): Nhà cung ứng dịch vụ Logitics là thuật ngữ chung được sử dụng cho cả một nhóm các công ty cung ứng tất cả các dịch vụ logistics nhưng họ khác nhau về các dịch vụ cung ứng và tài sản sở hữu.
Số liệu thống kê chính thức đến hết năm 2016, trên địa bàn Hà Nội có khoảng 450 - 500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Logistics (đã bao gồm cả các doanh nghiệp chuyển phát nhanh bưu cục). Song nếu tính cả các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến Logistics thì có tới hàng chục nghìn doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, theo số liệu của Sở Công thương Hà Nội, hầu hết các doanh nghiệp LSP chỉ có quy mô nhỏ và vừa (quy mô vốn trung bình là 18,6 tỷ đồng và quy mô nhân sự trung bình là 58 người). Thậm chí có những doanh nghiệp quy mô vốn chỉ có 500 triệu đồng với số lượng nhân viên trên dưới 10 người và có nhiều doanh nghiệp trên địa bàn chưa ứng dụng các phần mềm công nghệ thông tin trong hoạt động của mình.
Ngoài ra, một thực trạng khác là hơn 60% doanh nghiệp LSP trên địa bàn Hà Nội là các chi nhánh của các doanh nghiệp LSP tại thành phố Hồ Chí Minh, do đó mà quy mô hoạt động cũng như điều kiện vật chất đều hạn chế hơn so với hội sở. Vì vậy, cho đến nay, các doanh nghiệp LSP Việt Nam nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng vẫn chủ yếu đóng vai trò "vệ tinh" cho các công ty logistics nước ngoài, chỉ đảm nhận một số công đoạn trong chuỗi hoạt động logistics như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi… trong khi dịch vụ logistics là một quy trình hoàn chỉnh gồm toàn bộ công việc liên quan đến cung ứng, vận chuyển, theo dõi sản xuất, kho bãi và làm thủ tục phân phối. Qua kết quả khảo sát, điều tra cho thấy, mức độ tự đánh giá về năng lực của các doanh nghiệp LSP trên địa bàn Hà Nội còn ở mức khiêm tốn.
Ngoài ra, theo một số khảo sát khác, đến nay đã có khoảng 40 - 50 công ty cung cấp dịch vụ Logistics hàng đầu thế giới đang có mặt tại Việt Nam và Hà Nội dưới nhiều hình thức khác nhau như tập đoàn APL, Mitsui OSK, NYK Logisitics, DHL, TNT… Đây là những tập đoàn Logistics hùng mạnh và có khả năng cạnh tranh lớn, bề dày kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ với hệ thống mạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao. Trong khi các doanh nghiệp trong nước và trên địa bàn thành phố mới phôi thai hình thành thì sự xâm nhập của các nhà cung cấp Logistics hàng đầu thế giới trên thị trường khiến cho ngành dịch vụ Logistics phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt giữa các công ty trong và ngoài nước mà phần yếu thế thuộc về các doanh nghiệp trong nước. Dịch vụ Logistics thành phố phát triển trên địa bàn Hà Nội hiện nay chủ yếu là dịch vụ vận chuyển hàng hóa, chiếm khoảng 60 - 70% tổng doanh thu của các dịch vụ Logistics nói chung.

 
 

Hạ tầng manh mún, kém hiệu quả
Bên cạnh đó, theo TS. Trần Bảo Ngọc, Vụ trưởng Vụ Vận tải, Bộ Giao thông – Vận tải, hạ tầng cho dịch vụ Logistics còn nhiều vấn đề đáng nói. Trước hết, vấn đề nổi cộm là thiếu đồng bộ, nhất là giữa cảng biển với hệ thống đường bộ, đường sắt và hệ thống dịch vụ hỗ trợ sau cảng biển. Thiếu những cảng cạn, trung tâm Logistics có quy mô và vị trí thuận tiện tại mỗi khu vực kinh tế trọng điểm để làm đầu mối trung chuyển, phân phối hàng hóa.
Là địa bàn Thủ đô, Hà Nội có nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển hoạt động logistics, gồm kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đường sắt, đường không… tương đối hoàn thiện. Tuy nhiên, Sở Công Thương Hà Nội thừa nhận, hoạt động Logistics trên địa bàn thành phố chưa được phát triển toàn diện, nguồn cung lớn nhưng doanh nghiệp của địa phương và doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng được…
Mạng đường chưa hoàn chỉnh, thiếu nhiều đường nối giữa các trục chính quan trọng. Một số tuyến chính rất quan trọng chưa được cải tạo, mở rộng để đáp ứng năng lực yêu cầu. Giao thông tĩnh (bến, bãi đỗ xe, trạm dừng ...) còn thiếu và không tiện lợi. Tỷ lệ đất dành cho giao thông còn rất ít, mới chỉ đạt khoảng 8% đất xây dựng đô thị, trong khi theo quy hoạch là từ 20 - 25%. Tình trạng ùn tắc giao thông trên các tuyến đường ở địa bàn Hà Nội hiện nay dù đã cải thiện hơn trước rất nhiều nhưng vẫn còn diễn ra rất thường xuyên. Đây là một mối quan ngại lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đầu tư vào Việt Nam nói chung và TP. Hà Nội nói riêng. Bởi tình trạng ùn tắc giao thông làm tăng chi phí, thời gian vận chuyển và kéo theo đó là ảnh hưởng đến kế hoạch, thời gian giao hàng, buộc các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh phải hoàn thành sớm quá trình trình sản xuất và gấp rút chuyển hàng sớm trước thời hạn để kịp giao hàng.
Bà Hồng cho rằng, dù được cải tiến, nâng cấp nhưng ở thời điểm hiện tại, cơ sở hạ tầng đường sắt Hà Nội còn cũ kỹ, lạc hậu, chưa được đầu tư hiện đại, việc vận tải hành khách và hàng hóa còn nhiều hạn chế.

Hệ thống cảng thủy nội địa trên địa bàn Hà Nội được xây dựng tại các khu vực đầu mối có khả năng hấp dẫn, phù hợp trên mỗi vùng được phân bổ, như cảng Hà Nội và cảng Khuyến Lương. Nhưng Hà Nội mới chỉ khai thác một phần rất nhỏ tiềm năng vận tải do mạng lưới cảng đường thủy nội địa ở khu vực phía Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng phần lớn được xây dựng từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trước nên đội tàu có trọng tải không đáng kể và thiết bị, dịch vụ cảng vụ còn yếu kém, chủ yếu khai thác sông tự nhiên.
“Một thực tế đáng buồn là từ trước đến nay, khai thác vận tải thủy mới dừng ở lại ở mức lợi dụng tự nhiên mà chưa thực sự có những dự án lớn, nhằm cải thiện hạ tầng giao thông thủy chứ chưa nói đến đột phá”, bà Hồng nhận định. Đặc biệt, hầu hết các doanh nghiệp vận tải thủy nội địa đều là các doanh nghiệp tư nhân, phát triển tự phát, manh mún, năng lực tài chính hạn chế. Không những thế, quản lý nhà nước trên địa bàn vẫn chưa chú trọng, không có sự điều tiết của nhà nước để tạo điều kiện cho phát triển, chưa phát triển vận tải đa phương thức để vận tải thủy phát triển. Với tình trạng đó, doanh nghiệp khó tiếp cận với các mặt hàng siêu trường, siêu trọng.
Với đường hàng không, theo đánh giá của các nhà cung cấp dịch vụ Logistics thì trình độ, kỹ năng của nhân viên tại ga hàng hóa sân bay còn thấp, dẫn đến chậm trễ, hư hỏng hàng, tăng chi phí cho các công ty Logistics cũng như doanh nghiệp sản xuất. Hầu hết mọi tuyến đường hàng không của Việt nam đều dừng ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore hay Đài Loan nên năng lực chuyên chở thường rất hạn chế, nhất là vào thời điểm cuối tháng.
 
Quy mô kho hàng, bến bãi còn nhỏ
Thời gian qua, để đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa tăng với tốc độ cao, đặc biệt là hàng container, trên địa bàn Hà Nội đã hình thành 2 cảng container là cảng container Gia Lâm (ICD Gia Lâm) và cảng container Mỹ Đình (ICD Mỹ Đình). Tuy nhiên, các cảng container này mới chỉ kết nối duy nhất với đường bộ, đường sắt mà chưa có các kết nối với đường thủy nội địa. Chính vì lý do đó mà phạm vi hoạt động của các ICD này cũng có một số hạn chế, chủ yếu cung cấp dịch vụ vận tải đường bộ và cho thuê kho bãi là chính.
Bên cạnh đó, trên địa bàn TP. Hà Nội còn có các kho hàng truyền thống khác như Tổng kho Đức Giang. Do kho này đã được xây dựng từ lâu nên đường tiếp cận hẹp, hiện nay không còn thuận tiện cho việc lưu trữ hàng hóa, thêm nữa là hệ thống thông tin, các phương tiện xếp dỡ cũ kỹ, lạc hậu làm cho thời gian bốc dỡ hàng hóa kéo dài. Ngoài ra, gần đây, cũng đã có một số doanh nghiệp tư nhân bắt đầu đầu tư xây dựng nhà kho để tự kinh doanh hoặc cho thuê nhưng diện tích các nhà kho này không đáng kể do quỹ đất trên địa bàn thành phố không nhiều.
Về hệ thống kho tại các nhà ga như kho Ga Giáp Bát và kho ga Văn Điển, nhìn chung, cơ sở vật chất quá cũ kĩ, lạc hậu. Hiện nay, trong số 5.000 toa tàu hàng của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam thì đã có tới 3.000 toa đã có thâm niên "lao động" từ 40, 50 năm, đã hết thời gian khấu hao và 2.000 toa còn lại cũng đã khá cũ kĩ. Trong khi đó, công tác sửa chữa, bảo dưỡng chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Vì vậy, con số 300 toa tàu đóng mới trong một năm của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cũng không thể đáp ứng đủ lượng hàng vận tải ngày càng tăng cao.
Những vấn đề trên cho thấy hệ thống kho bãi ở Hà Nội còn nhỏ, quy mô rời rạc, chất lượng chưa cao. Chưa xây dựng được các trung tâm Logistics tầm cỡ trong khu vực để kết nối các hình thức vận tải và các loại phương tiện vận tải tối ưu. Từ đó, đòi hỏi Hà Nội phải có các dự án đầu tư, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kho hàng, bến bãi tạo điều kiện thuận lợi hơn để phát triển hệ thống Logistics trên địa bàn thành phố.

Có chính sách xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng Logistics
Để phát triển dịch vụ Logistics của Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng, ông Trần Thanh Hải, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho rằng, vai trò của quản lý nhà nước là rất quan trọng để định hướng, thúc đẩy và hỗ trợ cho ngành logistics phát triển. Việc tăng cường phối hợp trong quản lý Nhà nước giữa các cơ quan, ban ngành được xem là giải pháp quan trọng, tiên quyết nhất nhằm phát triển ngành Logistics Việt Nam. Song hiện nay, vấn đề tổ chức quản lý hoạt động logistics còn chồng chéo, chưa phù hợp, chưa kiến tạo thị trường dịch vụ Logistics minh bạch, thể chế hóa. Sự phối hợp của các cơ quan quản lý còn lỏng lẻo và tốn rất nhiều thời gian. Do đó, cần thống nhất nhận thức về quản lý, nâng cao vai trò của Logistics ngay trong từng ngành. Và quan trọng nhất là cần một cơ chế quản lý liên ngành về Logistics.
Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Logistics Việt Nam cho rằng, cần tăng cường, hoàn chỉnh khung pháp lý dịch vụ Logistics. Đơn giản hóa thủ tục hành chính để giảm thời gian và chi phí Logistics, tạo thuận lợi thương mại. Với “phần mềm” của kết cấu hạ tầng, quy hoạch tổng thể và phát triển các loại kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và hạ tầng mềm ICT, đặc biệt là tại các vùng kinh tế trọng điểm, hành lang kinh tế. Có chính sách hỗ trợ DNNVV logistics về tiếp cận nguồn vốn, kết nối đối tác quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực. Ban hành điều kiện kinh doanh chuẩn ngành Logistics...
Ý kiến khác cho rằng cần xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển Logistics Thành phố Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn 2050. Trong quy hoạch tổng thể phát triển ngành Logistics thành phố cần quan tâm xây dựng các trung tâm Logistics lớn có tầm dài hạn 50 đến 100 năm. Hoàn thiện và cụ thể hóa các chính sách phát triển hệ thống Logistics của Nhà nước về dịch vụ Logistics thành phố.

Cần thiết thành lập cơ quan liên ngành quản lý các dịch vụ Logistics Thành phố. Các hiệp hội ngành liên quan tới dịch vụ Logistics gồm có Hiệp hội các doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), Hiệp hội Chủ tàu Việt Nam (VSA), Hiệp hội Đại lý - Môi giới hàng hải Việt Nam (VISABA), Hiệp hội Cảng biển Việt Nam (VPA), Hiệp hội Vận tải ôtô. Thực tế trên địa bàn thành phố Hà Nội chưa có cơ quan quản lý nhà nước về Logistics mà đang do nhiều Sở ban ngành như giao thông vận tải, thương mại, tài chính, hải quan đảm nhiệm theo phạm vi được phân công. Điều này đòi hỏi phải sớm thành lập cơ quan quản lý nhà nước về Logistics, trước mắt có thể là Ban hay phòng quản lý Logistics ở Sở công thương của thành phố.
UBND thành phố Hà Nội cần hỗ trợ và tạo môi trường để phát triển đồng bộ thị trường dịch vụ Logistic và phát triển các dịch vụ của doanh nghiệp, nhất là khi Hà Nội mở rộng để giải quyết hiệu quả các dịch vụ đầu vào và đầu ra ở doanh nghiệp. Cần sớm đầu tư xây dựng các trung tâm Logistics trên địa bàn thành phố nhằm cung ứng các dịch vụ đồng bộ cho các doanh nghiệp trên địa bàn nhằm giảm chi phí, ùn tắc giao thông, hạn chế sự xung đột của các phương tiện vận tải. Có chính sách xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng Logistics trên địa bàn thành phố, nhất là cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, hệ thống phân phối lưu thông hàng hóa. Đây là yếu tố quyết định sự phát triển hệ thống Logistics hiện nay…
Đồng thời, các doanh nghiệp cần chủ động phối hợp, liên kết với nhau, vì thực tế hiện nay tính liên kết của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội còn yếu. Đã đến lúc, các doanh nghiệp Logistic Thành phố cần hợp tác để có thể đưa ra thị trường một chuỗi các dịch vụ Logistics tổng thể cho khách hàng, theo đó, một công ty giao nhận có thể liên kết với một công ty về kho bãi, về vận tải, môi giới, hàng không để tạo thành một chuỗi liên kết chặt chẽ./.
 
HPA
Trên : http://hpa.gov.vn

-----------------------------------

CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ CARRIER (CARRIER TECHNOLOGY CO.,LTD)

Số 10, LK 23, Ngô Thì Nhậm, Q. Hà Đông, TP. Hà Nội


Web: http://www.vantaitoiuu.com/
Fanpage : https://www.facebook.com/carriervn/


     
;
;